Bỏ qua tới nội dung
Thuế & rủi ro tuân thủ

Công ty nợ bảo hiểm xã hội thì đóng doanh nghiệp thế nào cho đúng

Nợ bảo hiểm xã hội đứng trước nợ thuế trong thứ tự thanh toán khi giải thể. Bài nêu hồ sơ, bảy việc bị cấm và trách nhiệm cá nhân 05 năm.

15 phút đọc
Pháp Tín — bộ hồ sơ giải thể đang được hoàn thiện, minh họa cho công ty nợ bảo hiểm xã hội giải thể

Phần lớn anh chị tới lúc đóng công ty mới biết điều đó. Trước đó, thứ tự trong đầu thường ngược lại: thuế là nợ Nhà nước nên trả trước, bảo hiểm là chuyện của người lao động nên tính sau.

Thứ tự đó dẫn tới hai hậu quả cụ thể: hồ sơ giải thể bị vướng ở phần kê khai nợ, và những người ký hồ sơ có thể phải chịu trách nhiệm cá nhân trong 05 năm. Bài này đi theo đúng thứ tự luật định, từ lúc chưa ra quyết định giải thể cho tới lúc nộp hồ sơ.

Thứ tự trả nợ khi giải thể, và bảo hiểm xã hội đứng ở đâu?

Điều 208 khoản 5 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau.

Thứ tự Khoản nợ Gồm những gì
Thứ nhất Nợ với người lao động Nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết
Thứ hai Nợ thuế Thuế gốc, tiền chậm nộp 0,03% mỗi ngày theo Điều 16 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, tiền phạt đã có quyết định
Thứ ba Các khoản nợ khác Nợ nhà cung cấp, nợ vay, nợ đối tác và các nghĩa vụ tài sản còn lại

Ba nhóm này không phải ba việc làm song song. Chúng là ba bậc, và bậc dưới chỉ tới lượt khi bậc trên đã xong.

Sau khi thanh toán chi phí giải thể và các khoản nợ, phần còn lại mới chia cho chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty theo tỷ lệ sở hữu, theo Điều 208 khoản 6. Nghĩa là chủ doanh nghiệp đứng sau cả ba nhóm chủ nợ.

Vì sao người lao động đứng trước cơ quan thuế?

Thứ tự này chỉ có ý nghĩa thực sự khi tiền không đủ. Nếu doanh nghiệp còn đủ tiền trả tất cả thì trả trước trả sau không khác nhau nhiều. Khi tiền thiếu, thứ tự quyết định ai được trả và ai không.

Luật đặt người lao động lên trước vì họ là bên yếu thế nhất trong ba nhóm chủ nợ. Cơ quan thuế có công cụ cưỡng chế theo Điều 48 và Điều 49 Luật Quản lý thuế 108/2025, gồm trích tiền từ tài khoản, kê biên tài sản, ngừng sử dụng hóa đơn. Nhà cung cấp và bên cho vay có hợp đồng, có tài sản bảo đảm, có quyền khởi kiện. Người lao động thường không có gì trong số đó.

Thứ tự này có ba hệ quả thực tế. Doanh nghiệp còn nợ bảo hiểm xã hội mà đem tiền trả thuế trước là làm sai thứ tự luật định, và phần đã trả cho cơ quan thuế thì khó lấy lại.

Khoản nợ bảo hiểm xã hội không tự mất khi người lao động đã nghỉ việc. Nó gắn với thời gian làm việc đã có, và ảnh hưởng tới quá trình đóng của từng người sau này.

Nếu tiền chỉ đủ cho bậc thứ nhất thì doanh nghiệp chưa đủ điều kiện giải thể, vì Điều 207 khoản 2 yêu cầu bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ. Trường hợp đó thuộc mục cuối bài.

Hồ sơ giải thể nêu đích danh nợ bảo hiểm xã hội

Điều 210 khoản 1 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định hồ sơ giải thể gồm thông báo về giải thể doanh nghiệp; báo cáo thanh lý tài sản doanh nghiệp; danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sau khi quyết định giải thể.

Câu chữ đó đáng đọc kỹ. Nợ bảo hiểm được nêu đích danh trong hồ sơ, ngang hàng với nợ thuế, chứ không nằm chung trong mục “các khoản nợ khác”. Doanh nghiệp không thể nộp hồ sơ với phần nợ bảo hiểm để trống và tính xử lý sau.

Từ 23/7/2026, mẫu Thông báo về giải thể doanh nghiệp là Mẫu số 30 ban hành kèm Thông tư 121/2026/TT-BTC, sửa Thông tư 68/2025/TT-BTC.

Trước hồ sơ, còn hai việc ở bước nghị quyết mà nhiều doanh nghiệp làm thiếu.

Thứ nhất, nội dung nghị quyết. Điều 208 khoản 1 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định nghị quyết, quyết định giải thể phải có: tên và địa chỉ trụ sở chính; lý do giải thể; thời hạn và thủ tục thanh lý hợp đồng, thanh toán các khoản nợ; phương án xử lý nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động; họ tên và chữ ký của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị. Phương án xử lý nghĩa vụ từ hợp đồng lao động là một nội dung bắt buộc, không phải phần thêm cho đẹp hồ sơ.

Thứ hai, nơi nhận. Điều 208 khoản 3 quy định trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, nghị quyết, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và người lao động trong doanh nghiệp. Người lao động là một trong ba nơi nhận bắt buộc. Nghị quyết còn phải đăng trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện. Nếu còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm phương án giải quyết nợ đến chủ nợ.

Anh chị đang có khoản nợ bảo hiểm xã hội và chưa biết xếp nó vào đâu trong hồ sơ thì gửi thông tin qua trang liên hệ trên website. Pháp Tín rà lại tổng nợ theo ba bậc, xem tài sản còn lại có đủ cho bậc thứ nhất không, rồi báo lại trình tự kèm cho phần thủ tục. Bước rà này không tính phí.

Bảy việc bị cấm sau khi có quyết định giải thể

Đây là mục anh chị nên đọc trước khi ký quyết định, không phải sau.

Điều 211 khoản 1 Luật Doanh nghiệp 2020 cấm doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp làm bảy việc kể từ khi có quyết định giải thể.

Điểm Việc bị cấm Vì sao liên quan tới việc xoay tiền trả bảo hiểm
a Cất giấu, tẩu tán tài sản Tài sản phải giữ nguyên để thanh lý và trả nợ theo thứ tự
b Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ Khoản phải thu là nguồn tiền thật; xóa nợ cho khách hàng lúc này là làm giảm phần trả cho người lao động
c Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp Làm một chủ nợ vượt lên trước thứ tự luật định
d Ký kết hợp đồng mới, trừ trường hợp để thực hiện giải thể doanh nghiệp Không bán hàng theo hợp đồng mới để lấy tiền được nữa
đ Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản Đường vay vốn bằng tài sản của công ty bị đóng lại
e Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực Hợp đồng đang chạy phải thực hiện tiếp
g Huy động vốn dưới mọi hình thức Không gọi thêm vốn để bù phần thiếu được

Hai điểm cần chú ý nhất với doanh nghiệp còn nợ bảo hiểm là điểm b và điểm đ. Điểm b khóa việc thương lượng giảm công nợ phải thu để thu tiền nhanh. Điểm đ khóa việc cầm cố hoặc thế chấp tài sản công ty để vay tiền trả nợ.

Điều 211 khoản 2 quy định người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy tính chất, và phải bồi thường nếu gây thiệt hại.

Trách nhiệm cá nhân 05 năm nếu hồ sơ không chính xác

Đây là rủi ro lớn nhất trong bài này, và nó rơi vào người ký chứ không rơi vào công ty đã đóng.

Điều 210 khoản 2 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể.

Điều 210 khoản 3 quy định trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác hoặc giả mạo, những người này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết, số thuế chưa nộp, số nợ khác chưa thanh toán, và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Quyền lợi người lao động được nêu đầu tiên trong câu đó. Với doanh nghiệp còn nợ bảo hiểm xã hội, việc kê khai đã thanh toán hết trong khi thực tế chưa thanh toán là chính xác cái tình huống mà khoản 3 nói tới. Công ty đóng rồi, nhưng người ký vẫn còn trách nhiệm trong 05 năm.

Cần nói rõ để anh chị không lo sai chỗ: trách nhiệm này chỉ phát sinh khi hồ sơ không chính xác hoặc giả mạo. Hồ sơ trung thực, nợ đã trả đủ, thì kết thúc là kết thúc.

Không đủ tiền trả bảo hiểm xã hội thì sao?

Nếu tài sản còn lại không đủ trả bậc thứ nhất, doanh nghiệp không đủ điều kiện giải thể theo Điều 207 khoản 2 Luật Doanh nghiệp 2020. Đây là điều kiện tiên quyết, không phải thủ tục có thể bổ sung sau.

Con đường còn lại là thủ tục phá sản tại Tòa án. Điều 5 khoản 2 Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, hiệu lực từ 01/3/2026, quy định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Luật này còn có thủ tục phục hồi, và cho phép cơ quan quản lý thuế cùng cơ quan bảo hiểm xã hội nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Ranh giới giữa hai con đường rất rõ: giải thể là thủ tục hành chính tại Cơ quan đăng ký kinh doanh, điều kiện tiên quyết là trả hết nợ. Phá sản là thủ tục tư pháp tại Tòa án, áp dụng khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Không dùng cái này thay cái kia được.

Riêng câu hỏi khoản nợ bảo hiểm xã hội được xử lý thế nào khi doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán, phần đó cần tra cứu riêng theo pháp luật bảo hiểm xã hội chứ không suy ra từ Luật Doanh nghiệp. Luật Bảo hiểm xã hội 2024 số 41/2024/QH15 không có cơ chế xóa nợ bảo hiểm xã hội: Điều 40 và Điều 41 buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền chậm đóng, trốn đóng và nộp thêm 0,03% mỗi ngày tính trên số tiền đó, kèm xử phạt vi phạm hành chính, ngừng sử dụng hóa đơn, hoãn xuất cảnh và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Về thứ tự thanh toán, khi giải thể thì nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đứng ở bậc thứ nhất, trước nợ thuế, theo khoản 5 Điều 208 Luật Doanh nghiệp 2020; khi phá sản, quyền lợi người lao động xếp sau chi phí phá sản và trước nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, theo Điều 54 Luật Phá sản 2014. Để người lao động không mất quyền lợi, Điều 28 Nghị định 158/2025/NĐ-CP nêu sáu căn cứ xác định người sử dụng lao động không còn khả năng đóng, và Điều 29 cho phép người lao động hoặc thân nhân đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận thời gian đã đóng để giải quyết chế độ, thời hạn 15 ngày làm việc và tối đa 45 ngày nếu phải xác minh.

Khi nào KHÔNG nên ra quyết định giải thể sớm?

Khi chưa có phương án cho người lao động.

Lý do nằm ở Điều 211. Trước ngày có quyết định giải thể, doanh nghiệp vẫn ký được hợp đồng mới để bán hàng, vẫn thế chấp được tài sản để vay, vẫn thương lượng được với khách nợ để thu tiền nhanh. Sau ngày đó, cả ba việc đều nằm trong danh sách bảy việc bị cấm.

Pháp Tín thấy bốn tình huống nên hoãn quyết định giải thể lại.

Khi chưa tính xong tổng nợ bậc thứ nhất. Nợ lương, trợ cấp thôi việc và nợ bảo hiểm của cả người đang làm lẫn người đã nghỉ phải cộng đủ trước, vì con số đó quyết định doanh nghiệp thuộc đường giải thể hay đường phá sản.

Khi còn tài sản cần bán để lấy tiền trả bậc thứ nhất, mà việc bán cần một hợp đồng mới. Bán trước, ra quyết định sau.

Khi còn khoản phải thu cần thương lượng. Sau khi có quyết định giải thể, việc giảm bớt quyền đòi nợ bị cấm theo điểm b khoản 1 Điều 211.

Khi chưa gửi được nghị quyết tới người lao động. Điều 208 khoản 3 cho 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, và doanh nghiệp đã mất liên lạc với người lao động cũ sẽ khó hoàn thành nghĩa vụ này đúng hạn.

Ngược lại, khi tiền đã đủ cho cả ba bậc và phương án cho người lao động đã có, thì ra quyết định sớm là hợp lý, vì mốc 180 ngày tại Điều 208 khoản 8 bắt đầu chạy từ ngày Cơ quan đăng ký kinh doanh nhận nghị quyết.

Câu hỏi thường gặp

Công ty nợ bảo hiểm xã hội có giải thể được không?

Được, sau khi đã trả hết. Điều 207 khoản 2 Luật Doanh nghiệp 2020 yêu cầu bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, và Điều 208 khoản 5 xếp nợ bảo hiểm xã hội vào nhóm phải trả đầu tiên. Hồ sơ giải thể theo Điều 210 khoản 1 phải kê khai số nợ bảo hiểm đã thanh toán.

Người lao động đã nghỉ việc lâu rồi thì có phải trả nợ bảo hiểm của họ không?

Có. Điều 208 khoản 5 nói tới quyền lợi của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết, không giới hạn ở người còn đang làm việc. Khoản nợ gắn với thời gian làm việc đã phát sinh.

Trả bảo hiểm trước hay trả thuế trước?

Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cùng với nợ lương và trợ cấp thôi việc đứng ở bậc thứ nhất theo Điều 208 khoản 5. Nợ thuế đứng ở bậc thứ hai. Khi tiền không đủ cho cả hai, thứ tự này là thứ tự luật định.

Ký hồ sơ giải thể xong thì hết trách nhiệm phải không?

Không hẳn. Điều 210 khoản 3 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định nếu hồ sơ giải thể không chính xác hoặc giả mạo, những người ký phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán quyền lợi người lao động chưa được giải quyết, số thuế chưa nộp và các khoản nợ khác, trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ.

Có được vay tiền hoặc thế chấp tài sản công ty để trả nợ bảo hiểm không?

Trước khi có quyết định giải thể thì được. Sau khi có quyết định giải thể thì không, vì điểm đ khoản 1 Điều 211 cấm cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản, và điểm g cấm huy động vốn dưới mọi hình thức.

Gửi mã số thuế và số lao động để biết đang ở bậc nào?

Việc đầu tiên không phải làm hồ sơ, mà là cộng đủ ba bậc nợ rồi so với tài sản còn lại. Con số đó quyết định doanh nghiệp đi đường giải thể hay đường phá sản, và quyết định thứ tự trả tiền trong những tháng tới.

Anh chị gửi thông tin qua trang liên hệ trên website. Pháp Tín tra nợ thuế theo mã số thuế, cộng với số liệu nợ lương và nợ bảo hiểm do anh chị cung cấp, rồi báo lại doanh nghiệp đang đủ hay thiếu cho bậc thứ nhất, kèm cho phần hồ sơ giải thể. Nếu số liệu cho thấy tài sản không đủ trả bậc thứ nhất, Pháp Tín nói thẳng điều đó trước khi anh chị ký quyết định giải thể.

Dịch vụ liên quan

Đọc tiếp

Zalo