Bỏ qua tới nội dung
Giải thể & tạm ngừng

Chi phí giải thể gồm những gì và vì sao báo giá chênh nhau nhiều

Ba nhóm chi phí khi giải thể doanh nghiệp: khoản nộp cho nhà nước, phí dịch vụ, chi phí dọn sổ sách. Cách kiểm tra một báo giá có thật.

14 phút đọc
Pháp Tín — hai phương án đặt cạnh nhau để so, minh họa cho chi phí giải thể doanh nghiệp

Anh chị mở bài này thường vì vừa hỏi giá ba nơi và nhận về ba con số khác nhau xa. Một nơi báo một mức gọn, một nơi báo cao hơn nhiều, một nơi nói phải xem sổ sách rồi mới báo được.

Bài này tách chi phí giải thể thành ba nhóm và chỉ ra nhóm nào cố định, nhóm nào thay đổi theo từng công ty. Sau đó bài đưa một cách kiểm tra để anh chị tự đánh giá một báo giá, không cần biết nghiệp vụ kế toán.

Vì sao hai nơi báo giá cùng một việc mà lệch nhau nhiều lần?

Vì hai nơi đang tính số bước khác nhau, và vì phần lớn báo giá được đưa ra trước khi có ai rà xem doanh nghiệp còn thiếu bao nhiêu kỳ tờ khai.

Giải thể không phải một lần nộp giấy. Đó là một chuỗi bước, và số bước phụ thuộc vào tình trạng của từng công ty. Một công ty nộp tờ khai đầy đủ, không nợ thuế, không có chi nhánh, đi hết chuỗi nhanh. Một công ty bỏ trống hai năm tờ khai, còn nợ thuế, còn một chi nhánh chưa chấm dứt, đi qua nhiều bước hơn hẳn.

Khi một nơi báo giá gọn, thường họ đang báo cho phần việc hành chính: soạn nghị quyết, soạn hồ sơ, nộp và theo hồ sơ. Khi một nơi báo cao hơn, thường họ đã cộng thêm phần dựng lại sổ sách và nộp bù tờ khai. Hai bên không mâu thuẫn, họ đang bán hai phạm vi việc khác nhau.

Nhóm một: các khoản phải nộp cho nhà nước, không ai giảm được

Nhóm này không phụ thuộc vào đơn vị dịch vụ. Nó phụ thuộc vào hồ sơ thuế của công ty, và không có bên nào thương lượng được xuống thấp hơn.

Khoản thứ nhất là tiền thuế còn nợ. Đây là số thuế của các kỳ trước mà công ty chưa nộp, cộng với số thuế phát sinh khi nộp bù các tờ khai còn thiếu. Không trả hết khoản này thì không hoàn tất được giải thể, vì Điều 207 khoản 2 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

Khoản thứ hai là tiền chậm nộp. Điều 16 khoản 2 điểm a Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, hiệu lực 01/7/2026, quy định mức tính tiền chậm nộp bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế và khoản thu khác chậm nộp. Con số này nghe nhỏ, nhưng nó tính theo ngày và tính liên tục, nên trên một khoản nợ để lâu thì nó cộng thành phần đáng kể. Khoản 3 cùng điều quy định người nộp thuế tự xác định và nộp; sau 30 ngày chưa xác định thì cơ quan thuế thông báo.

Khoản thứ ba là tiền phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế. Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP chia thành năm khung theo số ngày quá hạn. Cần nói rõ ngay: các mức tại Điều 13 là mức áp dụng đối với tổ chức, theo Điều 7 khoản 4 và khoản 5 cùng nghị định, và mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Hộ kinh doanh và hộ gia đình áp mức như cá nhân.

Khung Tình trạng Mức cho tổ chức
1 Quá hạn 01 đến 05 ngày và có tình tiết giảm nhẹ Cảnh cáo
2 Quá hạn 01 đến 30 ngày 2.000.000 đến 5.000.000 đồng
3 Quá hạn 31 đến 60 ngày 5.000.000 đến 8.000.000 đồng
4 Quá hạn 61 đến 90 ngày; hoặc quá 91 ngày trở lên nhưng không phát sinh số thuế phải nộp; hoặc không nộp hồ sơ nhưng không phát sinh số thuế phải nộp 8.000.000 đến 15.000.000 đồng
5 Quá hạn trên 90 ngày, có phát sinh số thuế phải nộp, và đã nộp đủ tiền thuế cùng tiền chậm nộp trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra hoặc lập biên bản 15.000.000 đến 25.000.000 đồng

Bảng này giải thích một phần lớn khoảng chênh giữa các báo giá. Một công ty thiếu bốn kỳ tờ khai và một công ty thiếu mười hai kỳ tờ khai không nằm cùng một mức, dù trên giấy tờ đều là “giải thể một công ty”.

Điều 13 khoản 5 còn có một quy tắc chặn: nếu số tiền phạt lớn hơn số thuế phát sinh trên hồ sơ khai thuế thì mức phạt tối đa bằng số thuế phát sinh, nhưng không thấp hơn mức trung bình của khung phạt tại khoản 4. Điều 13 khoản 6 quy định thêm biện pháp khắc phục hậu quả: buộc nộp đủ tiền chậm nộp nếu chậm nộp hồ sơ dẫn đến chậm nộp thuế, và buộc nộp hồ sơ khai thuế cùng phụ lục.

Một điểm nữa cần biết vì nó ảnh hưởng tới việc dọn xa tới đâu. Điều 8 khoản 6 điểm a Nghị định 125/2020 quy định quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ tiền thuế truy thu vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Nghĩa là hết thời hiệu phạt không có nghĩa là hết nghĩa vụ nộp.

Nhóm hai: phí dịch vụ

Nhóm này là phần duy nhất thực sự thuộc về đơn vị dịch vụ, và cũng là phần nhỏ hơn nhóm một trong phần lớn hồ sơ có tồn đọng.

Phí dịch vụ trả cho các phần việc sau: rà trạng thái mã số thuế và số kỳ tờ khai còn thiếu; dựng lại hoặc bổ sung sổ sách của các kỳ chưa kê khai; soạn và nộp các tờ khai còn thiếu; soạn nghị quyết giải thể theo đúng nội dung Điều 208 khoản 1 Luật Doanh nghiệp 2020; soạn hồ sơ giải thể theo Điều 210 khoản 1 gồm thông báo về giải thể doanh nghiệp và báo cáo thanh lý tài sản kèm danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán; làm việc với cơ quan thuế cho tới khi mã số thuế chấm dứt hiệu lực; theo hồ sơ tại Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Pháp Tín không đưa ra một bảng phí cố định cho ba mức, vì phí đi theo tình trạng hồ sơ thật chứ không theo nhãn mức: số kỳ tờ khai còn thiếu, khối lượng chứng từ còn giữ được, số hóa đơn phải xử lý, và số lần cơ quan thuế yêu cầu giải trình. Hai hồ sơ cùng xếp vào một mức vẫn có thể chênh nhau đáng kể. Vì vậy báo giá đưa ra sau bước rà, không đưa ra trước — và đó cũng là cách duy nhất để con số báo ra không vỡ giữa chừng.

Điều đáng nói là tỉ lệ. Với một công ty sổ sách sạch, phí dịch vụ chiếm phần lớn tổng chi phí và tổng chi phí không lớn. Với một công ty bỏ trống nhiều kỳ, nhóm một phình lên và phí dịch vụ trở thành phần nhỏ hơn. Anh chị càng dọn muộn thì phần tiền vào ngân sách càng lớn so với phần trả cho dịch vụ.

Nhóm ba: chi phí ẩn theo tình trạng sổ sách, chỗ chênh nhau nằm ở đây

Nhóm này là nguyên nhân thật của mọi khoảng chênh. Nó không cố định, không tra được từ bảng giá, và chỉ hiện ra sau khi có người mở hồ sơ ra xem.

Có bốn thứ làm nhóm ba phình lên.

Thứ nhất là số kỳ tờ khai còn thiếu. Mỗi kỳ thiếu là một tờ khai phải dựng, một khung phạt phải xác định, và có thể một khoản thuế phải nộp. Đây là biến số lớn nhất.

Thứ hai là tình trạng hóa đơn. Điều 14 khoản 1 Thông tư 90/2026/TT-BTC quy định người nộp thuế phải hoàn thành nghĩa vụ về hóa đơn theo quy định của pháp luật về hóa đơn, hoàn thành nghĩa vụ nộp hồ sơ khai thuế, nộp thuế và xử lý số tiền thuế nộp thừa trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Nếu hóa đơn có sai sót chưa xử lý, hoặc có hóa đơn của nhà cung cấp đã bỏ địa chỉ, phần việc này dài ra.

Thứ ba là đơn vị phụ thuộc. Điều 14 khoản 1 Thông tư 90/2026 quy định trường hợp đơn vị chủ quản có các đơn vị phụ thuộc thì toàn bộ các đơn vị phụ thuộc phải hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế trước. Một công ty có hai chi nhánh là ba hồ sơ, không phải một.

Thứ tư là nợ lương và nợ bảo hiểm. Điều 208 khoản 5 Luật Doanh nghiệp 2020 xếp thứ tự thanh toán nợ thành ba bậc: bậc thứ nhất là nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết; bậc thứ hai là nợ thuế; bậc thứ ba là các khoản nợ khác. Bậc thứ nhất đứng trước nợ thuế, nên nếu công ty còn khoản này thì nó vào chi phí trước.

Yếu tố Nhóm sổ sách sạch Nhóm có tồn đọng Nhóm tồn đọng nhiều kỳ
Số kỳ tờ khai còn thiếu Không có Vài kỳ Nhiều kỳ, có thể qua nhiều năm
Tiền phạt chậm nộp tờ khai Không phát sinh Khung 2 hoặc 3 Khung 4 hoặc 5, tính theo từng hồ sơ
Tiền chậm nộp 0,03%/ngày Không có nợ nên không phát sinh Có, trên số nợ nhỏ Có, cộng dồn theo số ngày
Việc dựng lại sổ sách Không cần Bổ sung một phần Dựng lại phần lớn
Thời gian tới khi nộp được hồ sơ Ngắn Trung bình Dài, và khó cam kết trước

Cách kiểm tra một báo giá có thật hay không?

Có một câu hỏi tách được báo giá đã rà khỏi báo giá đọc bảng giá: bên báo giá đã biết công ty thiếu bao nhiêu kỳ tờ khai chưa.

Nếu câu trả lời là một con số cụ thể kèm cách họ biết con số đó, nghĩa là họ đã tra. Nếu câu trả lời chuyển sang mô tả dịch vụ, hoặc sang một mức phí gọn cho “trọn gói giải thể”, nghĩa là con số đó chưa dựa trên hồ sơ của công ty anh chị.

Ba câu hỏi bổ sung nên hỏi tiếp.

Câu thứ hai: tiền phạt chậm nộp tờ khai và tiền chậm nộp thuế nằm trong hay ngoài mức đã báo. Đây là chỗ hay hiểu nhầm nhất, vì hai khoản này nộp cho ngân sách chứ không trả cho đơn vị dịch vụ, nhưng nhiều báo giá không nói rõ chúng nằm ngoài.

Câu thứ ba: công ty có chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh nào chưa chấm dứt không, và phần đó tính thế nào. Theo Điều 14 khoản 1 Thông tư 90/2026 thì phần này phải xong trước, nên nó không thể nằm ngoài phạm vi.

Câu thứ tư: nếu cơ quan thuế yêu cầu giải trình hoặc bổ sung, phần việc đó tính thêm hay đã bao gồm. Đây là chỗ hay phát sinh, và cũng là chỗ mà một báo giá gọn thường bỏ trống.

Khi nào KHÔNG nên chọn báo giá thấp nhất?

Pháp Tín thấy có bốn tình huống mà báo giá thấp nhất là báo giá đắt nhất khi cộng hết lại.

Thứ nhất, khi bên báo giá chưa hỏi mã số thuế. Không có mã số thuế thì không tra được trạng thái, không biết số kỳ thiếu, nên con số đưa ra chỉ là mức khởi điểm. Phần chênh sẽ xuất hiện sau khi đã ký.

Thứ hai, khi báo giá không nói rõ tiền nộp ngân sách nằm ngoài. Anh chị nghe một con số và hiểu đó là tổng, rồi tới lúc nộp thuế và tiền chậm nộp mới thấy phần lớn tiền chưa được tính. Cảm giác bị đội giá đến từ chỗ này, không phải từ mức phí.

Thứ ba, khi công ty đã bỏ trống nhiều kỳ mà báo giá vẫn gọn. Việc dựng lại sổ sách nhiều kỳ là việc mất thời gian thật, và một mức phí quá gọn cho việc đó thường nghĩa là phần dựng sổ sẽ bị làm mỏng. Hồ sơ mỏng thì cơ quan thuế trả lại, và thời gian trôi trong khi tiền chậm nộp vẫn tính theo ngày.

Thứ tư, khi công ty còn nợ lương hoặc nợ bảo hiểm xã hội mà báo giá không nhắc tới. Khoản đó đứng ở bậc thứ nhất tại Điều 208 khoản 5, đứng trước nợ thuế. Một báo giá bỏ qua bậc thứ nhất là báo giá cho một trình tự không hoàn tất được.

Còn tình huống mà báo giá gọn là đúng: khi công ty nộp tờ khai đầy đủ, không nợ thuế, không có đơn vị phụ thuộc, và đã ngừng phát sinh hóa đơn từ trước. Khi đó việc giải thể đúng là việc hành chính, và anh chị không cần trả cho phần dọn dẹp mà mình không có.

Câu hỏi thường gặp

Giải thể công ty hết bao nhiêu tiền?

Không có một con số dùng cho mọi công ty, vì phần lớn chi phí là tiền nộp cho nhà nước và phần đó phụ thuộc vào số kỳ tờ khai còn thiếu cùng số thuế còn nợ. Cách duy nhất để biết là tra trạng thái mã số thuế và đếm số kỳ thiếu trước, rồi mới tính. Bất kỳ con số đưa ra trước bước đó đều là mức khởi điểm.

Tiền phạt và tiền chậm nộp có nằm trong phí dịch vụ không?

Không. Tiền thuế còn nợ, tiền chậm nộp 0,03%/ngày theo Điều 16 khoản 2 điểm a Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, và tiền phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế theo Điều 13 Nghị định 125/2020 đều nộp vào ngân sách nhà nước. Đơn vị dịch vụ không thu và không giảm được các khoản này.

Công ty không phát sinh doanh thu thì có bị phạt chậm nộp tờ khai không?

Có. Điều 13 khoản 4 Nghị định 125/2020 xếp cả trường hợp quá hạn từ 91 ngày trở lên nhưng không phát sinh số thuế phải nộp và trường hợp không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp vào khung 8.000.000 đến 15.000.000 đồng cho tổ chức. Không có doanh thu không đồng nghĩa với không phải nộp tờ khai.

Vì sao có nơi nói phải xem sổ sách rồi mới báo giá được?

Vì họ đang nói đúng phần khó nhất. Chi phí nằm ở nhóm ba, tức tình trạng sổ sách, và nhóm đó không tra được từ bảng giá. Một nơi chịu xem trước thường sẽ báo một con số sát hơn, dù nghe chậm hơn ở bước đầu.

Đã hết thời hiệu xử phạt thì có phải nộp thuế cũ không?

Vẫn phải nộp. Điều 8 khoản 6 điểm a Nghị định 125/2020 quy định quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ tiền thuế truy thu vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

Muốn biết công ty mình rơi vào nhóm nào trong ba nhóm

Ba nhóm chi phí ở trên chỉ thành con số khi có bốn dữ kiện: trạng thái mã số thuế, số kỳ tờ khai còn thiếu, số thuế còn nợ, và số đơn vị phụ thuộc chưa chấm dứt. Bốn dữ kiện này tra được trước khi anh chị bỏ đồng nào.

Gửi mã số thuế qua trang liên hệ trên website, Pháp Tín tra trạng thái và báo lại thứ tự xử lý trong một ngày làm việc. Bước này không tính phí.

Nếu kết quả tra cho thấy công ty thuộc nhóm sổ sách sạch, Pháp Tín sẽ nói rõ phần việc còn lại nhỏ tới đâu, kể cả khi điều đó nghĩa là phần việc thuê ngoài không nhiều.

Dịch vụ liên quan

Đọc tiếp

Zalo