Dấu hiệu nào khiến doanh nghiệp bị đưa vào diện kiểm tra thuế
Cơ quan thuế chọn hồ sơ theo quản lý rủi ro và bốn mức tuân thủ. Bài liệt kê 8 trường hợp kiểm tra tại trụ sở, dấu hiệu Nhóm I, Nhóm II.

Anh chị thường tìm câu trả lời cho câu hỏi này vào một trong hai lúc: khi nghe tin một doanh nghiệp quen bị kiểm tra, hoặc khi tự thấy có vài chỗ trong sổ chưa yên tâm. Câu hỏi thật ra không phải “mình có bị không”, mà “cơ quan thuế nhìn vào những gì”.
Danh sách dưới đây được lấy từ các văn bản công khai. Đọc xong, anh chị tự đối chiếu được doanh nghiệp mình đang có bao nhiêu dấu hiệu, và dấu hiệu đó nặng hay nhẹ.
Cơ quan thuế chọn doanh nghiệp để kiểm tra thế nào?
Nguyên tắc nằm ở Điều 22 khoản 1 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/7/2026. Việc kiểm tra thuế áp dụng quản lý rủi ro và ứng dụng công nghệ thông tin, ưu tiên kiểm tra trực tuyến và từ xa trên dữ liệu điện tử, không cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế, và không trùng lặp về nội dung, phạm vi, thời gian giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra.
Ba chữ đáng chú ý trong câu trên là “trực tuyến, từ xa”. Phần lớn việc kiểm tra hiện nay diễn ra trên dữ liệu mà cơ quan thuế đã có: tờ khai, hóa đơn điện tử, báo cáo tài chính. Việc xuống tận doanh nghiệp chỉ xảy ra với một số trường hợp, và chính là các trường hợp ở mục sau.
Việc xếp loại doanh nghiệp theo mức rủi ro dựa vào Thông tư 94/2026/TT-BTC, có hiệu lực 01/7/2026 thay Thông tư 31/2021/TT-BTC, về quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro trong quản lý thuế. Thông tư này chia người nộp thuế thành bốn mức: tuân thủ tốt, tuân thủ trung bình, tuân thủ thấp, và không tuân thủ.
Tiêu chí phân loại tại Phụ lục I gồm bảy nhóm: nộp thuế đúng hạn; kê khai đầy đủ; vi phạm pháp luật; sử dụng hóa đơn; hoàn thuế; thay đổi thông tin đăng ký; và nợ thuế. So với thông tư cũ, văn bản hiện hành bổ sung nguồn thông tin về quan hệ sở hữu và kết quả kiểm toán, đồng thời áp dụng kết quả phân loại cho cả việc lựa chọn kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế theo kế hoạch và theo chuyên đề.
Đọc bảy nhóm tiêu chí trên có thể thấy chúng không đo mức độ trung thực. Chúng đo mức độ đều đặn: có nộp đúng hạn không, có kê khai đủ không, có thay đổi thông tin liên tục không. Doanh nghiệp làm ăn tử tế nhưng bừa về thủ tục vẫn có thể rơi vào nhóm rủi ro cao.
Các trường hợp kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp
Đây là danh sách quan trọng nhất của bài, vì nó là các trường hợp luật định, không phụ thuộc vào điểm rủi ro. Điều 22 khoản 3 Luật Quản lý thuế 108/2025 quy định các trường hợp kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế.
| Trường hợp | Ghi chú |
|---|---|
| Hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế | Gắn với hồ sơ đề nghị hoàn thuế |
| Kiểm tra sau hoàn thuế | Xảy ra sau khi đã được hoàn |
| Có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế | Dấu hiệu đến từ dữ liệu hoặc nguồn tin |
| Lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề | Đây là nhóm dùng kết quả phân loại rủi ro |
| Theo yêu cầu, đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền | Không xuất phát từ cơ quan thuế |
| Người nộp thuế rủi ro cao khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hóa | Giải thể nằm trong danh sách này |
| Theo yêu cầu giải quyết khiếu nại | Gắn với một vụ việc cụ thể |
| Hồ sơ miễn, giảm, không thu thuế | Gắn với hồ sơ đề nghị |
Dòng thứ sáu là dòng anh chị nên đọc lại. Doanh nghiệp rủi ro cao khi giải thể thuộc các trường hợp kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế. Nghĩa là quyết định đóng công ty không đưa doanh nghiệp ra khỏi tầm nhìn của cơ quan thuế, mà có thể đưa doanh nghiệp vào đúng danh sách đó.
Đây là lý do thực tế nhất để rà sổ sách trước khi nộp hồ sơ giải thể, chứ không phải sau. Rà trước thì còn thời gian sửa và còn quyền tự khắc phục. Rà sau, khi quyết định kiểm tra đã công bố, thì phần lớn cửa đã khép lại.
Điểm mới từ 01/7/2026
Có một trường hợp vừa được bỏ khỏi danh sách, và bỏ theo hướng nhẹ đi cho doanh nghiệp.
Trước đây, việc chuyển địa điểm kinh doanh là một trong các trường hợp phải kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế. Từ 01/7/2026, theo Điều 22 khoản 3 Luật Quản lý thuế 108/2025, chuyển địa điểm kinh doanh không còn là trường hợp bắt buộc kiểm tra tại trụ sở nữa.
Với doanh nghiệp nhỏ hay đổi mặt bằng, đây là thay đổi đáng kể. Trước đó, mỗi lần chuyển văn phòng là một lần lo. Tuy vậy cần phân biệt: bỏ khỏi danh sách bắt buộc không có nghĩa là việc chuyển địa điểm hết liên quan tới rủi ro. Bộ chỉ số rủi ro về hóa đơn vẫn xếp việc thay đổi người đại diện đồng thời chuyển địa điểm là một dấu hiệu.
Dấu hiệu cụ thể theo bộ chỉ số rủi ro hóa đơn
Bộ chỉ số công khai chi tiết nhất hiện có là bộ chỉ số ban hành kèm Quyết định 78/QĐ-TCT ngày 02/02/2023, ban hành thời Tổng cục Thuế, đánh giá người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro trong quản lý và sử dụng hóa đơn. Bộ chỉ số chia hai nhóm.
Nhóm I là nhóm nặng: chỉ cần một dấu hiệu là doanh nghiệp bị chuyển sang sử dụng hóa đơn có mã của cơ quan thuế. Nhóm này gồm: vốn chủ sở hữu dưới 15 tỷ đồng và không có cơ sở vật chất; thay đổi người đại diện đồng thời chuyển địa điểm; người đại diện bị khởi tố về trốn thuế hoặc mua bán hóa đơn; người đại diện đồng thời là người đại diện của doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; khôi phục mã số thuế sau thông báo không hoạt động; tạm ngừng rồi hoạt động lại kèm thay đổi người đại diện hoặc trụ sở; chậm nộp hồ sơ khai thuế quá 30 ngày; vốn dưới 15 tỷ nhưng doanh thu trên 10 tỷ và tỷ lệ thuế giá trị gia tăng phải nộp trên doanh thu dưới 1%; doanh thu bán cho bên liên kết trên 50%; giao dịch đáng ngờ theo cảnh báo của Ngân hàng Nhà nước.
Nhóm II không loại ngay mà chấm điểm, gồm: tỷ lệ tài sản cố định trên vốn thấp; doanh thu tăng đột biến; tỷ lệ hóa đơn hủy hoặc hóa đơn điều chỉnh, thay thế cao; tỷ lệ thuế giá trị gia tăng trên doanh thu thấp; bị xử phạt nhiều lần trong năm; thành lập nhiều năm không có doanh thu rồi chuyển nhượng.
Có ba tiêu chí mà anh chị hay nghe nhắc nhưng không nằm trong danh sách trên: lỗ nhiều năm liên tục, tỷ lệ chi phí trên doanh thu bất thường, và số hoàn thuế lớn. Ba tiêu chí này phổ biến trong thực hành và được nhắc tới trong các phụ lục về quản lý rủi ro, nhưng Pháp Tín chưa đối chiếu được với nguyên văn, nên không dẫn như quy định. Anh chị nên hiểu chúng là kinh nghiệm nghề, không phải căn cứ pháp lý. Quyết định 78/QĐ-TCT ngày 02/02/2023 về bộ chỉ số tiêu chí đánh giá người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro trong quản lý và sử dụng hóa đơn chưa tìm thấy văn bản nào thay thế. Nhưng căn cứ ban hành của nó là Thông tư 31/2021/TT-BTC, nay đã được thay bằng Thông tư 94/2026/TT-BTC về quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro trong quản lý thuế, hiệu lực 01/7/2026, đồng thời Tổng cục Thuế đã được tổ chức lại thành Cục Thuế. Vì vậy nên đối chiếu trực tiếp với cơ quan thuế quản lý trước khi áp bộ chỉ số này cho một hồ sơ cụ thể.
Kiểm tra không đồng nghĩa với có tội
Phần lớn lo lắng quanh chủ đề này đến từ một hiểu lầm: coi việc bị kiểm tra là kết luận doanh nghiệp đã làm sai. Không phải vậy.
Nhìn lại danh sách trường hợp kiểm tra tại trụ sở, có tới bốn nhóm không liên quan gì tới nghi ngờ vi phạm: kiểm tra trước hoàn thuế, kiểm tra sau hoàn thuế, lựa chọn theo kế hoạch và chuyên đề, và hồ sơ miễn giảm. Doanh nghiệp làm hồ sơ hoàn thuế đúng quy trình vẫn bị kiểm tra, vì đó là bước bắt buộc của chính quy trình hoàn thuế.
Kiểm tra theo kế hoạch và chuyên đề cũng vậy. Đó là hoạt động thường xuyên, được lập kế hoạch từ đầu kỳ, và số lượng doanh nghiệp trong kế hoạch được phân bổ theo địa bàn và ngành. Một doanh nghiệp lọt vào kế hoạch không có nghĩa hồ sơ của nó xấu hơn hàng xóm.
Thêm một điểm giúp anh chị đỡ lo: Điều 22 Luật Quản lý thuế 108/2025 quy định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế thường không quá 01 lần trong một năm, và nguyên tắc tại khoản 1 yêu cầu không trùng lặp về nội dung, phạm vi, thời gian giữa các cơ quan. Việc kiểm tra không phải là thứ có thể lặp lại tùy ý.
Khi nào KHÔNG nên lo?
Có những doanh nghiệp mà việc lo lắng về kiểm tra thuế chỉ tốn năng lượng mà không đổi lại được gì.
Thứ nhất, doanh nghiệp được xếp mức tuân thủ tốt theo Thông tư 94/2026/TT-BTC. Người nộp thuế tuân thủ tốt có cơ chế ưu tiên trong quản lý thuế. Nộp đúng hạn, kê khai đủ, không nợ thuế, không đổi thông tin đăng ký liên tục là bốn thứ nằm trong tầm kiểm soát của chính doanh nghiệp và cũng là bốn trong bảy nhóm tiêu chí phân loại.
Thứ hai, doanh nghiệp không có dấu hiệu nào thuộc Nhóm I của bộ chỉ số rủi ro hóa đơn, sổ sách liên tục và không có kỳ nào bỏ trống. Nhóm II chỉ chấm điểm, và vài dấu hiệu Nhóm II thường không đủ để đưa một hồ sơ lên đầu danh sách.
Thứ ba, doanh nghiệp vừa qua một đợt kiểm tra và đã xử lý xong kết luận. Kỳ đã kiểm tra chỉ được mở lại trong các trường hợp kiểm tra lại theo Điều 22 khoản 6 Luật Quản lý thuế 108/2025, với thời hiệu 2 năm.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp đang có kỳ chưa kê khai, có chi tiền mặt lớn không chứng từ, hoặc đang tính chuyện giải thể, thì việc nên làm không phải là lo mà là rà. Rà xong thì lo hay không lo đều có căn cứ.
Câu hỏi thường gặp
Doanh nghiệp nhỏ, ít doanh thu có bị kiểm tra không?
Có thể. Quy mô nhỏ không nằm trong tiêu chí loại trừ nào. Ngược lại, một số dấu hiệu Nhóm I của bộ chỉ số kèm Quyết định 78/QĐ-TCT năm 2023 gắn với doanh nghiệp vốn nhỏ, chẳng hạn vốn chủ sở hữu dưới 15 tỷ đồng và không có cơ sở vật chất.
Bao lâu thì bị kiểm tra một lần?
Điều 22 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 quy định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế thường không quá 01 lần trong một năm. Nguyên tắc tại khoản 1 cũng yêu cầu không trùng lặp về nội dung, phạm vi và thời gian giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra.
Nộp hồ sơ giải thể thì có bị kiểm tra không?
Người nộp thuế rủi ro cao khi giải thể nằm trong các trường hợp kiểm tra tại trụ sở theo Điều 22 khoản 3 Luật Quản lý thuế 108/2025. Không phải mọi doanh nghiệp giải thể đều bị kiểm tra tại trụ sở, nhưng giải thể là một trong các tình huống được liệt kê, nên rà sổ trước khi nộp hồ sơ là việc nên làm.
Chuyển địa chỉ công ty có bị kiểm tra không?
Từ 01/7/2026, chuyển địa điểm kinh doanh không còn là trường hợp bắt buộc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế. Tuy nhiên việc thay đổi người đại diện đồng thời chuyển địa điểm vẫn là một dấu hiệu Nhóm I trong bộ chỉ số rủi ro về hóa đơn.
Lỗ nhiều năm có bị đưa vào diện kiểm tra không?
Lỗ không phải hành vi vi phạm. Tiêu chí “lỗ nhiều năm liên tục” phổ biến trong thực hành và được nhắc trong các phụ lục về quản lý rủi ro, nhưng Pháp Tín chưa đối chiếu được với nguyên văn, nên đừng coi là căn cứ chắc chắn. Các dấu hiệu rõ ràng hơn nằm ở Nhóm I của bộ chỉ số rủi ro hóa đơn.
Đọc tiếp theo tình huống của mình
Nếu sau khi đối chiếu danh sách trên, anh chị thấy doanh nghiệp mình có vài dấu hiệu và chưa biết hồ sơ đang thiếu gì, thì việc tiếp theo là rà trước khi có ai hỏi tới. Bài “Kiểm tra sức khỏe kế toán và thuế: doanh nghiệp đang sai ở đâu và phải xử lý cái gì trước” mô tả sáu nhóm lỗi hay bị loại chi phí và thứ tự xử lý sao cho phần rẻ được làm trước.
Nếu quyết định kiểm tra đã nằm trên bàn, tình huống khác hẳn và thời gian tính theo ngày. Bài “Nhận quyết định kiểm tra thuế: những ngày đầu nên làm gì” nêu thời hạn 20 ngày, quyền từ chối các yêu cầu ngoài phạm vi, và năm việc nên làm theo thứ tự.
Dịch vụ liên quan
Đọc tiếp
Bàn giao kế toán: danh mục phải nhận đủ
Danh mục bàn giao kế toán dựng theo thời hạn lưu trữ 5 năm, 10 năm và vĩnh viễn, kèm phần dữ…
Đọc bài →Doanh nghiệp nhỏ có những nghĩa vụ thuế nào trong năm
Các nhóm nghĩa vụ khai và nộp thuế của doanh nghiệp nhỏ, khung phạt chậm nộp hồ sơ với tổ chức, tiền…
Đọc bài →Báo cáo tài chính cuối năm: những mục cơ quan thuế nhìn đầu tiên
Báo cáo tài chính năm được hệ thống quản lý rủi ro đọc thế nào, các chỉ số bị chấm điểm theo…
Đọc bài →